Theo quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp, lượng tro, xỉ thải dự kiến đến năm 2030 là 422 triệu tấn. Đây là con số khổng lồ, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển công nghiệp nói riêng và kinh tế, xã hội nói chung. Hiện nay, phần lớn lượng tro, xỉ vẫn đem chôn lấp. Nếu không đẩy mạnh các giải pháp tháo gỡ, áp lực của việc bố trí diện tích đất để chôn lấp, ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng nặng nề.

 

Khu xử lý tro bay Nhà máy nhiệt điện Phả Lại tại Công ty cổ phần Sông Đà Cao Cường.

Xử lý mới đạt gần 30%

Hiện nay, chỉ tính riêng các nhà máy nhiệt điện than, cả nước có 20 nhà máy đang vận hành, với tổng công suất lắp đặt là 13.110 MW, hằng năm phát thải ra khoảng 15,8 triệu tấn tro xỉ. Theo quy hoạch đến năm 2020, cả nước sẽ còn có thêm nhiều nhà máy nhiệt điện chạy than và phân bón, dự báo hằng năm các nhà máy này phát thải 30 đến 40 triệu tấn phế thải, trong đó chủ yếu là tro xỉ. Để có thể chứa chỗ phế thải đó, cần khoảng 600 nghìn ha, tức là cứ bốn năm sẽ mất diện tích đất của một xã trung bình của cả nước. Theo Phó Vụ trưởng Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) Lê Thế Ngọc, mặc dù Chính phủ đã quan tâm, khuyến khích công tác xử lý tro xỉ, thạch cao các nhà máy nhiệt điện, hóa chất làm vật liệu xây không nung (VLXKN), nhưng phải đến khi ban hành Quyết định 1696/QĐ-TTg ngày 23-9-2014 mới đề cập rõ các nhiệm vụ của các bộ, ngành liên quan, ban hành đầy đủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn, các chính sách ưu đãi khuyến khích, quy định ràng buộc các chủ cơ sở phát thải, thậm chí có quy định hạn mức bãi chứa tro xỉ, thạch cao... Đây là quyết định đầu tiên mang tính bắt buộc trong việc xử lý tro xỉ, thạch cao, từng bước tác động mạnh đến nhận thức trong xã hội. Nhiều đơn vị phát thải đã chủ động tìm kiếm các đối tác, nghiên cứu lựa chọn phương thức xử lý phù hợp. Các doanh nghiệp sản xuất VLXKN, xi-măng,... cũng tăng cường tiêu thụ tro xỉ. Tuy mức xử lý tro xỉ mới khoảng năm triệu tấn, đạt gần 30% lượng tro xỉ thải ra hằng năm, nhưng con số này cũng là thành công bước đầu so với nhiều năm trước. Một trong những khó khăn được nhiều đơn vị quan tâm hiện nay là tính an toàn trong sử dụng sản phẩm làm từ tro xỉ. Vụ trưởng Khoa học Công nghệ (Bộ Xây dựng) Lê Trung Thành cho biết, điều này phụ thuộc rất nhiều vào thành phần khoáng vật, hóa học của tro xỉ, và sâu xa hơn là nguồn than đốt trong các nhà máy nhiệt điện. Mỗi loại than có nhiệt lượng khác nhau, đồng thời các thành phần khoáng hóa khai thác ở các mỏ cũng có thể lẫn các nguyên tố kim loại, độc hại. Tuy nhiên, điều đáng mừng là ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu của ngành xây dựng và các tổ chức nghiên cứu khác, kể cả quốc tế cho thấy, thành phần khoáng vật và hóa học của tro xỉ đều không vượt ngưỡng an toàn trong việc xử lý, đặc biệt là tro xỉ được đốt ở trong nhà máy nhiệt điện. Đa số tro xỉ được tiêu thụ hiện nay làm VLXKN và đặc biệt được sử dụng rất hiệu quả để làm đập thủy điện, thủy lợi với hai công trình tiêu biểu là thủy điện Sơn La và Lai Châu.

Có chính sách ưu đãi về “đầu ra”

Một trong những ngành “đầu ra” cho sản phẩm tro xỉ là xi-măng, nhưng vướng mắc lớn nhất hiện nay là yếu tố than chưa cháy hết (mất khí nung) trong tro xỉ. Theo Tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp Xi-măng Việt Nam (Vicem) Trần Việt Thắng, đa số lượng tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện than ở nước ta có tỷ lệ mất khí nung còn cao, khoảng hơn 15%. Trong khi đó, để làm “đầu vào” cho ngành xi-măng, tỷ lệ này phải dưới 5% mới không ảnh hưởng chất lượng sản phẩm xi-măng. Một số nhà máy có tỷ lệ mất khí nung đạt chuẩn cho ngành xi-măng, nhưng lại nằm quá xa các nhà máy xi-măng, dẫn đến giá thành cao hơn các nguyên liệu phụ gia đầu vào. Vì vậy, các đơn vị trong Vicem mới chỉ đưa vào khoảng 10% nguồn nguyên liệu là tro bay làm phụ gia sản xuất xi-măng và đang chờ những chính sách phù hợp để tăng cường tiêu thụ tro xỉ. Về tổng thể, Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án Đẩy mạnh xử lý; sử dụng tro, xỉ, thạch cao của nhà máy nhiệt điện, nhà máy hóa chất, phân bón để làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng trong các công trình xây dựng. Theo đó đưa ra những mục tiêu cụ thể đến năm 2020 phải sử dụng được ít nhất 65% và đến 2030 đạt 90% tổng lượng tro xỉ, thạch cao thải ra hằng năm. Đồng thời, ban hành các ưu đãi đối với các nhà sản xuất, tiêu thụ tro xỉ, cũng như các chế tài bắt buộc với bên phát thải... Bộ cũng đang tập trung nghiên cứu giải pháp tiêu thụ tro xỉ trong các dự án giao thông, lấn biển vì tro xỉ khá phù hợp đối với các dạng công trình này. Nếu ứng dụng thành công, lượng tồn tro xỉ sẽ giảm đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh những chế tài bắt buộc, cũng cần có thêm những chế tài khuyến khích hợp lý và đặc biệt là tuyên truyền để người dân hiểu đúng, tăng cường sử dụng các vật liệu xây dựng tái chế, VLXKN. Viện trưởng Vật liệu xây dựng Lương Đức Long cho rằng, để thu hút các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, sản xuất vật liệu xây dựng sử dụng tro xỉ thải cần có cơ chế, chính sách cụ thể hơn nữa, được giảm thuế, ưu đãi về đất đai, thậm chí ưu đãi về tiền. Các cơ sở nghiên cứu cần nghiên cứu, ứng dụng thêm công nghệ để giảm chi phí, giá thành sản phẩm. Đồng thời, các cơ sở phát thải phải trả một khoản phí cho người sử dụng, đầu tư xử lý vật liệu đó... Cùng với đó, nhà nước cần tăng cường kiểm tra, rà soát nhằm xóa bỏ các lò gạch thủ công, tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu thụ các loại vật liệu thân thiện môi trường. Kinh nghiệm tại Nhật Bản, cứ dùng một tấn tro bay để tái chế sản xuất bất cứ loại vật liệu xây dựng, đều được nhà nước hỗ trợ hơn 30 USD/tấn sản phẩm. Ngoài ra, vật liệu tái chế sẽ được dán nhãn xanh, giúp DN dễ bán hàng hơn và được Nhà nước vinh danh. Trong khi đó ở nước ta, doanh nghiệp vẫn phải bỏ tiền ra mua tro xỉ, lợi ích chưa thấy, do vậy rất khó đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ loại phế thải có thể tái chế này. Bên cạnh đó, đẩy mạnh thông tin về tính ưu việt của các sản phẩm tái chế, thay đổi thói quen của người dân trong sử dụng vật liệu xây dựng, để từ đó, người dân sẽ mua vật liệu có nguyên liệu tái chế.
Minh Thành (báo Nhân dân)